Huyền tíchThần Kim Quy trên đất Thanh
Rồng - Hạc - Rùa là linh vật của người Việt. Rồng là yếu tố tiếp biến của văn hóa ngoại lai từ Trung Quốc, biểu tượng của Vương quyền.
Chùa Kim Quy ở thị trấn Huyện Nga Sơn
    
    Đến Việt Nam, qua truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng (thơ Nguyễn Khoa Điềm) lại là biểu tượng của tinh thần độc lập tự chủ. Chim Hạc là biểu tượng quá trình mở rộng địa bàn cư trú của người Việt từ rừng xuống đồng bằng biển cả từ thuở xa xưa. Thần Kim Quy trong truyền thuyết An Dương Vương lại là biểu tượng thần Hộ quốc của dân tộc Việt. Không gian sống của Rồng - Hạc - Rùa, đầy đủ yếu tố của triết học phương Đông là âm dương, ngũ hành Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ trong mối quan hệ biện chứng tương sinh tương khắc để sự vật tồn tại, để Tổ quốc độc lập trường tồn.
 
    Rùa vàng (Kim Quy) vốn là loài bò sát sống lưỡng cư cả trên bờ dưới nước, không gian sinh sống từ khe suối đến đầm lầy, đồng ruộng, không phải vật hại người mà rất hiền từ. Rùa bị chê là chậm (chậm như rùa) nhưng lại rất thông minh (Rùa chạy thi với Thỏ) hoàn cảnh sống dù nghiệt ngã, sức sống vẫn mãnh liệt. Rùa luôn đồng hành với người Việt, gắn bó khi người Việt ở hang đá, mái đá rồi chuyển cư xuống thung lũng đồng bằng trồng lúa nước. Theo nhà thơ Vương Anh, tác giả sưu tầm sử thi Đẻ đất đẻ nước cho biết, trong  Mo Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường Việt nói rằng chính mai rùa là hình mẫu cho người Mường Việt làm nhà (Dân tộc Thái có tục thờ Thần rùa, thần thoại Ba Na, Gia rai đều có chuyện làm nhà theo hình mai rùa). Mo Đẻ đất đẻ nước có cả một Rằng Mo, kể chuyện lấy rùa vàng nấu nước dội lên mái nhà gỗ Cây chu đá - lá chu đồng - bông lau quả thiếc cho ngôi nhà nguy nga tráng lệ, mang khát vọng của người xưa đưa cái trường tồn của tự nhiên che chở cho sự trường tồn của con người khi còn là thực thể của tự nhiên.
 
    Cũng theo Vương Anh, ở làng Lú, Mường Rặc, xã Quang Trung, huyện Ngọc Lặc còn có suối Rùa (Hoòn Ró), vụng Rùa (Vôống Ró). Làng Lú còn truyền bài ca:
 
Tắm suối Rùa da như trứng gà bóc
Uống suối Rùa tim gan thương
Bưng nước suối Rùa tay dẻo
Thiếu nước suối Rùa tay khô
Vẫy vùng suối Rùa thảnh thơi rười rượi
Vò gạo suối Rùa, gạo như trứng nở hoa.
(Vương Anh dịch từ bài ca tiếng Mường)
 
    Trong bài viết Người trai xứ Thanh con của thần Rùa (Báo VHTT số 688 năm 2003), tác giả Phùng Ngọc Diễn cho biết: GS. Hà Đình Đức - Chuyên gia nghiên cứu Rùa hồ Gươm giả thuyết cho rằng, Vua Lê Lợi đã đem rùa từ Thanh Hóa ra thả vào Hồ Lục Thủy (Hồ Hoàn Kiếm), bằng chứng là trong sách cổ có nói ở Vụng Sung, xưa kia có rùa to bằng chiếc chiếu đôi. Có lần Lê Lợi chạy giặc ở Lam Sơn, có con ba ba theo sau xóa dấu vết. Sau đó Lê Lợi phong cho ba ba là thần Ba Ba. Điểm nữa là con rùa đá đội bia Vĩnh Lăng (Lam Kinh) là rùa mai mềm rất giống tiêu bản rùa Hồ Gươm. Phải chăng loài rùa mai mềm xưa kia rất nhiều ở các hồ ở Thọ Xuân, Triệu Sơn, Thiệu Hóa, Yên Định, nên khi vào Thăng Long, vua Lê Lợi đã đem từ quê mình ra thả rùa vào Hồ Gươm và truyền thuyết “Anh linh” trả gươm cho rùa cũng có từ đó.
 
    Giả thuyết cũng chỉ là giả thuyết, chẳng bao giờ vua Lê Lợi lại bắt rùa ở Thanh Hóa ra thả vào Hồ Lục Thủy rồi lại ném trả gươm thần Thuận Thiên cho thần Kim Quy! Thực ra truyện truyền thuyết Hồ Gươm mang ý nghĩa báo điểm mốc lịch sử chiến tranh tàn khốc chấm dứt, Bốn phương biển cả thanh bình, giang sơn từ nay đổi mới (Bình Ngô đại cáo). Đức vua Lê Thái tổ được trời ban gươm Thuận Thiên để hành đạo trừ giặc ngoại xâm, giờ đất nước thanh bình lại Hoàn Kiếm về trời (gươm nhận từ suối nước giờ lại trả về hồ nước). Tuy vậy, qua nghiên cứu của GS. Hà Đình Đức cho ta biết nhiều địa phương ở Thanh Hóa xưa kia có nhiều rùa lớn nặng tới hai tạ như tiêu bản rùa Hồ Gươm đặt ở đền Ngọc Sơn.
 
    Rùa gắn bó với đời sống vật chất và tâm linh của người Việt, rùa còn là vật tuế cống lần đầu tiên đi sứ phong kiến Trung Hoa của nước ta. Theo sách Việt sử Thông giám Cương mục tiền biên (tập 1 - NXB Văn Sử Địa - Hà Nội - 1957) trang 55 có ghi: Sách Cương mục tiền biên của Kim Lý Tường chép rằng: Năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu, Việt Thường Thị sang chầu, dâng con rùa thần. Lời chua - Rùa Thần: Theo Thông chí của Trịnh Tiều, về đời Đào Đường (2357-2258 tr.CN), phương Nam có Việt Thường qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến nghìn năm, mình nó hơn ba thước trên lưng có văn khoa đầu(1)ghi việc trời đất mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (Lịch Rùa).
 
    Địa danh Việt Thường, theo An Nam chí lược (viết đầu TK XIV) của Lê Tắc (NXB Thuận Hóa-trang 51) có ghi: Nước Việt Thường, tức đất Cửu Chân, ở phía Nam Giao Chỉ. Trang 55 còn ghi: Đất Nam Giao xưa, nhà Chu gọi là Việt Thường, nhà Tần đặt tên là Tượng Quận. Đến cuối nhà Tấn, Hải Úy là Triệu Đà đánh tóm thâu đất, tự lập làm một nước riêng và tiếm  xưng vương hiệu.
 
    Rùa vàng in đậm trong văn hóa Việt Nam, theo suốt chặng đường hình thành dân tộc để trở thành quốc gia Văn Lang đến Nhà nước Âu Lạc. Năm Quý Tỵ (280 tr.CN) là năm thứ 50 đời vua An Dương Vương, Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc. Thần Kim Quy lại xuất hiện với vai trò giúp vua An Dương Vương xây thành giữ nước và chế nỏ Thần để bảo vệ đất nước. Thần Kim Quy giúp An Dương Vương diệt con gà trắng ở núi Thất Diệu để An Dương Vương xây Loa Thành hình trôn ốc, cho móng rùa chế nỏ Liên Châu, một phát bắn ngàn tên. Ngành khảo cổ học đã tìm ra Loa thành ở huyện Đông Anh, Hà Nội, dưới chân thành có rất nhiều mũi tên đồng và cả nỏ Liên Châu. Đó là sự thật lịch sử. Bóc lớp vỏ huyền tích của truyền thuyết An Dương Vương, cho ta nhận ra tầng sâu ý nghĩa dựng nước ở thời điểm bình minh lịch sử của dân tộc Việt Nam, như thông điệp của cha ông gửi lại cho con cháu đời sau những bài học về sự nghiệp dựng xây và bảo vệ đất nước. Đó là phải luôn nêu cao cảnh giác kẻ ngoại xâm với thủ đoạn mưu phạt tâm công (để đánh vào lòng người Triệu Đà cho Trọng Thủy ở rể, làm gián điệp từ trong đánh ra). Đó là phải cảnh giác với thế lực nội thù (con gà trắng ở núi Thất Diệu mang âm hồn của quan quân triều trước chống phá việc xây thành). Muốn xây dựng đất nước phải phát động tổng lực toàn dân xây thành kiên cố, có khả năng đối phó sách tạo khi có giặc cướp nước (xây thành Cổ Loa hình xoáy ốc, khi giặc đến thành thế trận thiên la địa võng làm giặc không thể chiếm thành chiếm nước). Khi có giặc cường đến xâm lược phải phát động trận địa lòng dân, toàn dân đoàn kết chung một ý chí muôn người như một (lẫy nỏ một phát bắn ngàn tên). Đạo làm Vua Chủ trách nhiệm với dân nước thì công tư phải rạch ròi, trong tình huống nguy cấp phải biết hy sinh tình riêng để vì dân vì nước (quan hệ cha An Dương Vương với con gái là Mỵ Châu). Những bài học ấy đến bây giờ vẫn còn sức sống. Hình tượng thần Kim Quy trong truyền thuyết An Dương Vương trở thành thần Hộ quốc, biểu tượng tài năng trí tuệ của nhân dân hết mình vì vua chủ - người đại diện chủ quyền đất nước. Truyện truyền thuyết An Dương Vương được các nhà nghiên cứu Polclo Việt Nam xếp là một trong những truyện đứng đầu của loại truyện cổ tích và truyền thuyết Việt Nam.
 
    Địa danh xứ Thanh in đậm dấu chân Rùa Vàng. Bi kịch cuối đời của vua chủ An Dương Vương lại cũng in đậm địa danh trên đất Thanh. Theo ông Hoàng Tuấn Phổ, nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa xứ Thanh cho biết: Nơi thần Kim Quy ở là vùng Hàm Rồng. Bên bờ Nam có hồ nước rộng được dãy núi Rồng bao quanh. Hồ nước ấy có tên là Hồ Kim Quy. Hồ Kim Quy nối với sông Mã là lạch nước Thanh Giang(2) như cổ dài đội cả núi Hàm Rồng. Câu kêu cứu của An Dương Vương (trong truyền thuyết): Xứ Thanh Giang đâu ra mau cứu ta, ứng với địa danh Thanh Giang này. Bi kịch An Dương Vương chém Mỵ Châu máu loang ra biển, trai ăn phải, trong bụng trai sinh ra ngọc. Vùng đất ấy đặt tên là Lạch Bạng (xưa Lạch Bạng có nhiều trai ngọc), nay thuộc huyện Tĩnh Gia, nơi đây còn có đền thờ công chúa Mỵ Châu, trong đền thờ có tượng Mỵ Châu cụt đầu. Nhớ vị vua đã bỏ mình vì nước, nơi An Dương Vương chết, nhân dân Thanh Hóa lập đền thờ. Đó là đền thờ An Dương Vương ở xã Quảng Châu, huyện Quảng Xương.
 
    Ở huyện Nga Sơn còn có truyền thuyết: Thần Kim Quy thường xuất hiện ở vùng biển này để giúp dân gặp nạn giông bão. Tình thương dân thấu đến trời Phật. Để thử thách thần Kim Quy, một lần Phật Quan Âm hóa thân thành chim Hồng Hạc gãy cánh rơi xuống biển. Thần Kim Quy đã đỡ dìu chim Hồng Hạc trở về bầy đàn. Nơi bầy chim Hồng Hạc đậu dân đặt tên là Thiên Nga Lộ (sau dân đến ở thành làng Nga Lộ). Phật Quan Âm ứng hiện truyền cho dân xây ngôi chùa lấy tên là Chùa Kim Quy. Nơi đất dựng chùa là cồn cát có hình rùa vàng bơi ra biển. Đến giờ Kim Quy cổ tự còn có tên là chùa Yên Hạnh, nhân dân vẫn thường đến thắp hương cúng lễ, ngưỡng mộ thần Kim Quy.
 
    Tìm hiểu vùng đất quê Thanh với vị trí phên dậu của đất nước, có rất nhiều địa danh gắn với thần Kim Quy đến thế! Sao lại không có mối tương đồng với vai trò Hộ quốc của thần Kim Quy. Những địa danh mang dấu ấn thần Kim Quy là những vùng danh thắng xứ Thanh. Đền, chùa không ngơi hương khói tôn thờ, rất hấp dẫn khách du lịch. Có thể đây trở thành tua du lịch về thăm thắng địa thần Kim Quy trên đất Thanh.
             Việt Tuấn (CTV)
    (1). 1 thước cổ bằng 0,32m, Văn Khoa đầu là lối chữ cổ đời Chu - Trung Quốc (1134-250 Tr.CN), đầu to đuôi nhỏ, giống con nòng nọc, nên ta gọi là lối chữ Khoa, đầu. Các nhà khảo cổ đã tìm ra loại chữ Hỏa tự trên đất Thanh, có người giả thiêt có thể đây là chữ của người Việt cổ. Chữ Hỏa tự cũng giống hình con nòng nọc. Phải chăng Hỏa tự có sự tương đồng với Văn Khoa đầu.
   
    (2). Lạch nước Thanh Giang tiếp nối với sông Mã ở Tào Xuyên đổ ra cửa Lạch Trường. Xưa là cửa sông chính của sông Mã. Cách đây gần 300 năm, nước lũ đổ về bị chắn những bè gỗ lớn ở sông Tuần Ngu. Lũ dâng lên đổ sang lạch Thanh Giang trở thành sông Hàm Rồng bây giờ đổ ra cửa Hới (TX Sầm Sơn). Sông Tuần Ngu  còn lạch hẹp, dấu tích sông xưa chỉ còn lưu vực bờ bãi bao la.
 
(baothanhhoa.vn)

 

Người đăng: hoa bovai
Bài vết cùng chủ đề
Quảng cáo