Phát triển KT-XH miền Tây Thanh Hóa - những kết quả bước đầu
Vùng dân tộc miền núi tỉnh ta có dân số gần 1,1 triệu người, diện tích trên 80.000 km2 tương đương và lớn hơn một số tỉnh miền núi trong cả nước. Là vùng đất, vùng người - địa linh nhân kiệt nên miền núi Thanh Hóa luôn là địa bàn chiến lược cả về kinh tế - xã hội KTXH và quốc phòng - an ninh của cách mạng cả nước nói chung, của tỉnh Thanh nói riêng.

Trải qua các thời kỳ cách mạng, đồng bào các dân tộc miền Tây tỉnh ta đã đoàn kết một lòng theo Đảng đóng góp to lớn sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, bước vào công cuộc phát triển KTXH  và xây dựng làng, bản quê hương; điểm xuất phát của miền Tây gặp những khó khăn, thách thức như: Cơ sở hạ tầng thấp kém; sản xuất đậm tính tự cung, tự cấp; tình trạng tài nguyên rừng bị cạn kiệt; du canh du cư; nghèo đói, thiếu  nước, mù chữ,v.v... luôn diễn ra,  nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Đây chính là vấn đề mà Đảng, Nhà nước và tỉnh   luôn quan tâm bằng các chính sách đầu tư trong nhiều thập kỷ qua.

 
    Đặc biệt, trong thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới đất nước - từ khi có ánh sáng Nghị quyết 22/T.Ư của Bộ Chính trị và Quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Nghị quyết 21/T.U của Thường vụ Tỉnh ủy (1989); Nghị quyết Trung ương 7;  Nghị quyết 37/NQT.Ư ngày 1-7-2004 của Bộ Chính trị; Quyết định 253/2005/TTg; và mới đây là Chỉ thị 1971/TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVII (nhiệm kỳ 2010-2015), tất cả đều có chung một  ý nghĩa  to lớn rất quan trọng - đó là thời cơ vận hội đối với sự phát KTXH của vùng miền núi - miền Tây tỉnh Thanh Hóa.
 
 
Một góc lòng hồ Cửa Đạt. Ảnh: Nguyễn Minh
 
    Hòa theo ánh sáng các văn bản, nghị quyết là đồng bộ các chương trình, dự án, các nhóm chính sách và các chính sách lớn như - Nhóm Chính sách về phát triển  KTXH các xã đặc biệt khó khăn: Chương trình 135 giai đoạn I,  thực hiện trên địa bàn 102 xã, đã đầu tư và đưa vào sử dụng 675 công trình hạ tầng thiết  yếu các loại với tổng số vốn đầu tư: trên 500 tỷ đồng, chủ yếu đầu tư về giao thông, thủy lợi, trường học, điện nước sinh hoạt. Giai đoạn II -  có 178 xã/843 thôn bản, với 67.819 hộ/351.302 người dân hưởng lợi từ nguồn kinh phí thực hiện 5 năm là 901.038 triệu đồng. Thực hiện  784 công trình thiết yếu các loại.  Chương trình 134 CP và các chính sách theo các Quyết định 32 CP và 102 CP với tổng kinh phí trên 400 tỷ đồng, đã giải quyết những khó khăn, bức xúc cho trên 80 nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo về nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt. Chính sách theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, sau  2 năm thực hiện, tổng kinh phí cho các chính sách đã được Trung ương phân bổ là 388.984 triệu đồng (bình quân 54,4 tỷ đồng/huyện), làm nhà 167 cho 12.954 hộ; đầu tư các công trình giao thông liên huyện, xã là 43 công trình và các chính sách cấp trực tiếp cho hộ dân tộc thiểu số nghèo. Nhóm chính sách phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo và việc làm thực hiện lồng ghép cùng với các chương trình, dự án và chính sách dân tộc; chính sách vay vốn tín dụng đã thực hiện hỗ trợ cho trên 48.000 lượt hộ nghèo  được vay vốn ưu đãi với tổng dư nợ là 390.521  triệu đồng. Tạo việc làm cho  2.634 lượt người, với tổng kinh phí 21.438 triệu đồng. Và rất nhiều những chính sách lớn khác đã trực tiếp đi vào cuộc sống vùng đồng bào miền Tây trong nhiều năm lại đây, đó là: Chính sách trợ giá, trợ cước các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất; chính sách về phát triển nông - lâm nghiệp gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm; chính sách hỗ trợ hộ dân tộc đặc biệt khó khăn; chính sách quy hoạch sắp xếp lại dân cư;  chính sách về di dân tái định cư vùng kinh tế mới; chính sách bảo đảm an sinh xã hội theo quyết định 174/CP;  chính sách về y tế thực hiện theo Nghị định số 95/CP và Quyết định số 139/CP của Chính phủ; chính sách về cấp không thu tiền 21 loại báo và tạp chí cho vùng miền núi. Đặc biệt, trong quá trình triển khai Nghị quyết 37/T.Ư và Quyết định 253/TTg của Trung ương, tỉnh ta đã chỉ đạo cơ quan công tác dân tộc và các ngành cấp tỉnh lập và phê duyệt nhiều dự án lớn về quy hoạch phát triển đối với vùng miền Tây như: Dự án tổng phát triển miền Tây đến 2020, dự án ổn định phát triển KTXH vùng đồng bào Mông, dự án quy hoạch sắp xếp dân cư 15 xã biên giới, đề án 51 bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào Mông, Dao, Khơ Mú,v.v...
 
    Thông qua các chính sách và dưới tác động tổng hòa của các chính sách, chương trình, dự án đầu tư của Nhà nước và của tỉnh, vùng dân tộc miền núi  từng ngày thay da đổi thịt. Đã thực sự tạo ra những cơ hội lớn cho miền Tây phát triển mạnh mẽ, toàn diện về KTXH cũng như giữ vững quốc phòng -  an ninh.
 
    Đến nay, cơ cấu kinh tế khu vực miền núi đã từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa; tốc độ phát triển kinh tế (GDP) năm 2006 - 2010 ước đạt 13,5%. Trong đó, năm 2010 tỷ trọng nông - lâm nghiệp chiếm 38,3%; công nghiệp - xây dựng 31,6%, dịch vụ 30,1% (năm 2009, cơ cấu tương ứng là 40,5%, 29,5%, 30%). Lương thực bình quân đầu người đạt 370 kg. Tỷ lệ đói nghèo từ 39,42% năm 2001 xuống còn dưới 25% vào cuối năm 2005 (theo tiêu chí cũ); từ 53,38% năm 2006 giảm xuống 44,79% năm 2008;  39,6% năm 2009 và 32,29%  năm 2010 (theo tiêu chí mới); bình quân giảm nghèo hàng năm là  4,018%.
 
    Cơ sở hạ tầng được ưu tiên tăng cường, chiếm gần 50% cơ cấu vốn đầu tư. Các tuyến đường giao thông chính nối miền núi với miền xuôi; các cầu qua sông lớn cơ bản được xây dựng và phát huy hiệu quả; hệ thống giao thông nông thôn miền núi cơ bản được đầu tư ngay cả  những xã vùng sâu, vùng xa; 11 thị trấn huyện lỵ ở 11 huyện miền núi và 20 trung tâm cụm xã được đầu tư xây dựng từ nguồn vốn của Chương trình 135 đã được hình thành và bước đầu phát triển; Công trình Thủy lợi – Thủy điện và Hồ chứa nước Cửa Đạt đã đi vào hoạt động; các công trình mới - Thủy điện Hồi Xuân, Thành Sơn, Bá Thước I và II đã và đang thi công. Các  lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, bản sắc văn hóa các dân tộc được giữ gìn và phát huy. 223 xã miền núi có trường  THCS kiên cố, bán kiên cố và  mạng lưới y tế được mở rộng đến thôn, bản...
 
    Tuy nhiên, để hòa nhập với thời kỳ công nghiệp hóa đất nước và hội nhập quốc tế giai đoạn 2011-2015 và những năm tiếp theo, vùng miền Tây của tỉnh vẫn còn nhiều thách thức, khó khăn do  điểm xuất phát thấp và các khoảng cách vùng miền vẫn còn nhiều chênh lệch. Chính vì thế, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh khóa XVII tiếp tục xác định “Phát triển KTXH miền Tây” là một trong 5 chương trình trọng tâm của tỉnh giai đoạn 2010 -2015. Cũng đồng nghĩa với việc phát triển KTXH miền Tây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong  tỉnh. Để đạt được những mục tiêu nhiệm vụ về phát triển KTXH  vùng miền Tây theo nghị quyết Đảng bộ tỉnh đã đề ra, sự cần thiết phải tập trung một số nhiệm vụ giải pháp chủ yếu:  Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhận thức của đồng bào dân tộc về chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc; kết hợp việc đánh giá tổng kết các chính sách, chương trình, dự án kết thúc năm 2010,  đồng thời nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách “đặc thù” cho vùng, dân tộc, lĩnh vực đầu tư cho miền núi phù hợp với nhu cầu phát triển giai đoạn 2010-2015 và 2020; huy động cao nhất mọi nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững và ổn định xã hội, vùng dân tộc miền núi thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập. Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế,  đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo đảm quốc phòng an - ninh vùng miền Tây  tỉnh Thanh - dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
 
Theo Bao Thanh Hoa!
Người đăng: Đọt Rau Má
Bài vết cùng chủ đề
Quảng cáo