Công cuộc vực dậy nghề cói Nga Sơn: Những tín hiệu vui trên chặng đường dài


Xuất khẩu sản phẩm từ cói sang thị trường Trung Quốc.
   
    Lần đầu tiên huyện đồng bằng ven biển này canh tác được 2 vụ cói trong 1 năm. Đây được coi là thắng lợi rất đáng ghi nhận, mở ra tương lai sáng lạn hơn cho nghề cói Nga Sơn. Đó cũng chính là những thành quả đầu tiên sau khi thực hiện đề án Phát triển kinh tế vùng cói ven biển giai đoạn 2008 - 2015 của UBND huyện Nga Sơn.
 
    Từ bộn bề khó khăn...
 
    Chiếu cói Nga Sơn từ lâu đã được nhiều người ở khắp mọi miền biết đến, ăn sâu vào tiềm thức dân gian. Nhưng trong cơ chế thị trường, mà nhất là khủng hoảng kinh tế, có những giai đoạn, nghề cói ở đây tưởng như đi vào ngõ cụt. Gần đây nhất là trong các năm 2007 và 2008, nghề cói Nga Sơn lâm vào khủng hoảng. Phần vì cói không tiêu thụ được do mất các thị trường, nhất là thị trường Trung Quốc, phần vì chất lượng cói ngày càng đi xuống. Nhiều lao động vùng cói phải khăn gói ra đi tìm hướng mưu sinh nơi đất khách. Các làng quê vùng cói do đó cũng trở nên vắng vẻ.
 
    Chỉ cách đây hơn một năm, có dịp về vùng cói Nga Sơn, nhiều người ở các xã Nga Tân, Nga Tiến còn tâm sự chẳng mong Tết đến vì quá nghèo. Do cói làm ra không bán được nên chẳng ai còn hào hứng đầu tư thâm canh khiến năng suất cói lại càng thấp. Nhiều hộ bỏ đi làm ăn xa, đành bỏ hoang ruộng vườn khiến cói xấu lẫn cỏ hoang lấn nhau mọc um tùm. Các hoạt động xuất khẩu cói và các mặt hàng từ cói được khơi từ năm 1962 có nguy cơ bị chấm dứt. Gần như toàn dân các xã vùng biển trong huyện bị tác động mạnh, cái nghèo càng vây chặt.
 
    Giống cói ở đây cũng đã tồn tại nhiều đời, đang dần thoái hóa nên chất lượng cũng không cao. Băn khoăn lớn của cán bộ và nhân dân nơi đây vẫn là vấn đề: Hệ thống nông giang, thủy lợi nội đồng chưa đáp ứng được nhu cầu cho canh tác cây cói. Nhiều diện tích cói không đủ nước ngọt để thau chua, rửa mặn cần thiết khiến năng suất và chất lượng cói giảm đáng kể. Diện tích đất cói quá cao khiến sau khi canh tác vài ba vụ, nhân dân lại phải đầu tư khoản tiền lớn để đào đất, hạ thấp độ cao mặt ruộng. Điển hình nhất là trên 100 ha cói nằm ngoài đê 2 và trong đê 3 thuộc các xã Nga Tân, Nga Tiến, Nga Thủy có bình độ cao hơn cả diện tích trong đê 2 tới 0,4 đến 0,5m. Cói chưa được cải tạo, đất lại bạc màu, cằn cỗi, nguồn nước ngọt không đưa ra được... Tất cả, đã trở thành trở ngại rất cần giải quyết đối với cái nghề truyền thống đã gắn với sự sinh tồn của một bộ phận lớn người dân trong huyện.
 
    ... đến nhiều giải pháp đột phá
 
    Việc quy hoạch lại vùng cói để hướng tới sản xuất bền vững đã được huyện Nga Sơn chú trọng. Sau khi ban hành đề án, các cấp, các ngành ở huyện và các xã vùng cói bằng nhiều hình thức đã tổ chức tuyên truyền mục đích, ý nghĩa và nội dung của đề án cho cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp thu. Nhờ đó, mọi người hiểu và nhận thức sâu rộng về sự cần thiết và ý nghĩa của nó trong việc vực dậy và phát triển vùng cói ven biển. Họ đã nhận thức sâu sắc tính ưu việt của đề án nhằm hồi sinh nghề cói huyện nhà, đồng thời cùng chính quyền quyết tâm, nỗ lực khắc phục những khó khăn trước mắt. Ngoài ra, các xã đã tổ chức triển khai tới các đoàn thể và nông dân ở xóm, thôn được 40 buổi hội nghị với 8.557 lượt người tham gia. Cùng thời điểm trên, huyện cũng đã mở được 15 lớp dạy nghề làm TTCN từ cói cho gần 1.000 người.
 
    Hiện tại, trên địa bàn đã có 559 ha lúa tại các xã Nga Phú, Nga Thái... được chuyển trở lại từ trồng lúa sang trồng cói. Để nhân dân đồng thuận và có kinh phí chuyển đổi, huyện đã trích gần 800 triệu đồng để hỗ trợ. Hơn 70 ha cói kém năng suất khác lại được chuyển sang nuôi trồng thủy sản; 201,6 ha khác cũng được đầu tư hạ thấp mặt bằng với tổng số tiền hỗ trợ trên 102 triệu đồng.
 
    Hệ thống các trạm bơm, kênh dẫn nước cho đồng ruộng được đầu tư lớn. Đầu năm 2009, huyện đã đưa vào sử dụng 2 trạm bơm Nga Tân và Nga Tiến với tổng công suất 6.000m3/giờ đã góp phần tích cực vào việc thau chua, rửa mặn cho đồng cói. Về cải tạo giống cói, hiện Trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội đang tổ chức thực hiện dự án “Phục tráng giống cói bông trắng” theo nguồn kinh phí của Sở Khoa học - Công nghệ Thanh Hóa và Dự án điều tra tập đoàn giống cói theo nguồn kinh phí của Bộ Khoa học - Công nghệ. Mặt khác, huyện cũng có hướng tìm và du nhập một số giống cói năng suất cao về sản xuất.
 
    Lãnh đạo huyện Nga Sơn cũng đã bỏ ra nhiều tâm sức để tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm cói. Họ đã cất công sang tận Trung Quốc - thị trường quen thuộc của cói Nga Sơn để tìm hiểu nguyên do và liên hệ lại thị trường. Bên cạnh đó, nhiều thị trường mới đã được thiết lập, mở rộng như: Thái Lan, các nước Đông Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc... Việc mở rộng thị trường trong nước cũng được huyện chú trọng.
 
    Các doanh nghiệp cũng chung tay vào cuộc bằng cách đưa phân bón và đầu tư cho nông dân, cuối vụ, nông dân trả nợ bằng cách bán cói thành phẩm cho doanh nghiệp. Nhờ đó nông dân yên tâm đầu tư thâm canh, và không lo vấn đề “đầu ra” vì đã được bao tiêu sản phẩm.
 
    Việc triển khai dự án “Xác lập quyền đối với chỉ dẫn địa lý Nga Sơn cho sản phẩm cói” đã xác định được tính đặc thù của thổ nhưỡng trên đất trồng cói Nga Sơn so với các vùng khác; xác định được tính đặc thù của cói Nga Sơn; tìm được mối quan hệ hình thái - chất lượng cói Nga Sơn với đất trồng cói ở đây. Và quan trọng hơn, nhờ nó mà cói Nga Sơn đã được xác định “bản quyền” riêng cho mình.
 
    ... và những thành quả đáng mừng
 
    Vụ cói thứ 2 của năm 2009 vừa khép lại. Nó không những mang lại niềm vui cho người trồng cói nơi đây, mà còn mang theo hi vọng mở đầu cho một thời kỳ hoàng kim mới của nghề cói nơi vùng biển này.
 
    Vụ thu hoạch cói vừa qua, chúng tôi đã có mặt tại Nga Sơn. Nhiều hoạt động cắt cói, chẻ cói, phơi cói, vận chuyển cói... và tiếng nói cười râm ran trên hầu khắp các cánh đồng. Loại cói dài trên 1,6m có thể bán được từ 6.000 đến 7.000 đồng/1kg cói khô. Loại cói ngắn hơn 1,6m là 2.500 đến 3.000 đồng/1kg. Nếu 2-3 năm trước, bán 3 cân cói mới mua được 1 cân thóc, thì nay 1 cân cói đã có giá trị bằng 1,4 kg thóc.
 
    Tổng sản lượng cói sản xuất và mua vào để bán trong năm 2009 của toàn huyện đạt gần 30.400 tấn. Trong đó, sản lượng cói sản xuất là trên 19.100 tấn, sản lượng cói mua vào đạt trên 11.200 tấn. Tổng giá trị sản xuất sản phẩm từ cói năm 2009 trên địa bàn toàn huyện đạt 165,457 tỷ đồng, bằng 106,5% so với 2007 và 114,7% so với năm 2008.
 
    Ngày 13-4-2009, UBND huyện Nga Sơn đã xây dựng Cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển nông nghiệp và TTCN. Kết quả, đã đầu tư được 18 máy dệt chiếu và được huyện hỗ trợ 10 máy dệt chiếu khác, với số tiền 200 triệu đồng.  Các quỹ tín dụng nhân dân đã tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn nhằm tái sản xuất và đầu tư thâm canh cây cói và phát triển các nghề TTCN dùng nguyên liệu là cây cói.
 
    Với nhiều tín hiệu vui ban đầu, năm 2010 này, huyện Nga Sơn đã bố trí diện tích 1.450 ha cói và phấn đấu năng suất đạt 8 tấn/ha/vụ với sản lượng khoảng 23.000 tấn cói/năm. Các chỉ tiêu ấy tiếp tục được nâng lên trong giai đoạn 2011 - 2015 bởi huyện vẫn đẩy mạnh việc đầu tư thâm canh. Đến hết năm 2011, năng suất cói đại trà phấn đấu khoảng 8,5 tấn/ha/vụ và sản lượng khoảng 24.600 tấn cói. Đến năm 2015, năng suất cói phấn đấu đạt 9 - 9,55 tấn/ha/vụ và cho sản lượng từ 26.000 đến 27.000 tấn.
 
    Những thành công từ năng suất, chất lượng đã kéo theo tương lai sáng sủa hơn cho ngành, nghề TTCN từ cây cói. Từ đó, huyện đã đưa ra chỉ tiêu phấn đấu cho năm 2010 này, tổng giá trị sản xuất TTCN từ cói lên 185,329 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2009. Phấn đấu đến năm 2011, con số ấy sẽ tăng lên 207,568 tỷ đồng và đến năm 2015 là 326,612 tỷ đồng, tăng 76,2% so với 2010.
 
(baothanhhoa.vn)

Người đăng: hoa bovai
Bài vết cùng chủ đề
Quảng cáo