Quảng Xương được xem là một huyện nghèo của tỉnh Thanh Hoá, đồng đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai. Song, hiện nay, kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng qua các năm, thu nhập bình quân đầu người có mức tăng khá (298,7 USD năm 2002), đời sống nhân dân ngày càng cải thiện. Thêm nữa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại. Sự đổi thay kỳ diệu đó có được là do Quảng Xương đã đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cánh làm.


Là một huyện đồng bằng ven biển có diện tích đất tự nhiên 227,63 km2, Quảng Xương đã từ lâu được coi là trọng điểm lúa của tỉnh. Với chiều dài bờ biển gần 18km, Quảng Xương là một trong những huyện có tiềm năng về thuỷ, hải sản. Hơn nữa, nằm trên các trục quốc lộ 1A, quốc lộ 45, 47, tỉnh lộ số 4, phía bắc là thành phố Thanh Hoá với khu công nghiệp Lễ Môn, phía nam là Khu công nghiệp động lực Nghi Sơn - Tĩnh Gia, đồng thời là huyện có vị trí trọng yếu về an ninh - quốc phòng của tỉnh. Ðây là lợi thế đặc biệt quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng.
Kinh tế tăng trưởng nhờ chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Với 41 xã, thị trấn, huyện Quảng Xương chia thành hai vùng rõ rệt: đồng bằng và ven biển. Song phần lớn số dân vẫn sống bằng sản xuất nông nghiệp là chính, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn không chỉ là sự quan tâm của các cấp uỷ Ðảng, mà còn là nỗi trăn trở của bà con nông dân. Bởi vậy, các cấp uỷ Ðảng và chính quyền xã, huyện cùng lo với dân, cán bộ huyện thường xuyên xuống xã để điều tra, xem xét từng vùng đất để từ đó vận động khuyến khích dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng sao cho hợp lý.
Với chủ trương, sách lược phát triển hợp lý, đến nay, nhiều xã trong huyện đã lựa chọn cho mình hướng đi đúng. Trong đó có những xã đã chuyển hàng chục ha đất cấy lúa bị thoái hoá sang trồng cói, phục vụ nhu cầu phát triển thủ công nghiệp. Ðiển hình là xã Quảng Khê, từ một xã trong nhiều năm thuộc diện đói nghèo, đất thoái hoá đã chuyển 100 ha lúa năng suất thấp sang trồng cói, giá trị thu nhập từ một sào trồng cói gấp 4 lần giá trị thu nhập từ 1 sào trồng lúa. Các xã Quảng Hợp, Quảng Ninh... cũng chuyển sang trồng hàng trăm ha dâu nuôi tằm. Nhờ vậy, hiện nay, giá trị thu từ những ha trồng cói, dâu được nâng lên, qua đó tạo nguồn nguyên liệu góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển công nghiêp - tiểu thủ công nghiệp. Nếu năm 2001 tốc độ phát triển chỉ đạt 15% thì sang năm 2002 đã tăng lên 17%, năm 2003 đạt khoảng 18,5%. Ðối với các xã đất ruộng màu mỡ, Uỷ ban nhân dân xã đã chỉ đạo người dân tích cực chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, coi trọng cả ba vụ trong năm, tăng nhanh diện tích cây vụ đông trên đất 2 lúa, đồng thời đưa vào triển khai canh tác những giống lúa cho năng suất cao. Trong đó, giống lúa lai F1 được đưa vào canh tác đã cho năng suất ban đầu khá cao, giống lúa Bác Ưu 903 đạt 22 tạ/ha. Do đó, dù nhiều xã đã chuyển sang trồng cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng sản lượng lúa của huyện Quảng Xương vẫn khá cao. Huyện Quảng Xương vẫn được coi là huyện trọng điểm lúa của tỉnh.
Vùng đất chua ven biển chi chít hố bom ở phía bắc sông Yên một thời để cỏ, lau mọc um tùm, giờ đây đã được cải tạo thành đồng nuôi trồng thủy sản nước lợ. Từ Quảng Trung, Quảng Chính... qua vùng bãi ngang, cát trắng đến các xã Quảng Phú ở hạ lưu sông Mã, diện tích trồng triều cứ thế nhân rộng mãi, kéo dài đến hút tầm mắt. Vẫn đất cũ, người cũ (dân xứ Quảng), nhưng tư duy kinh tế, phương thức sản xuất mới đang được nhân rộng, đánh thức tiềm năng vùng triều. Cùng với chủ động ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thời gian qua, các địa phương đã quy hoạch lại diện tích vùng triều, mở rộng đồng nuôi, mạnh dạn chuyển nhiều ha đất trồng lúa và cói cho năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản nước lợ. Theo số liệu thống kê, năm 2002, sản lượng thu hoạch thủy sản nước lợ ở Quảng Xương đạt 849 tấn trong đó có 450 tấn tôm sú, nâng sản lượng khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ, hải sản ở Quảng Xương lên 6.700 tấn, tăng 15% so với năm 2001.
Không những tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của Quảng Xương tăng lên qua các năm, mà tỷ trọng dịch vụ thương mại cũng theo một hướng đi mới. Nếu năm 2001 tốc độ tăng trưởng là 11,97%, chiếm 28,14% GDP, thì đến năm 2002 đạt 13,7% chiếm 19,09%. Trong đó, công nghiêp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tăng cả về tốc độ lẫn tỷ trọng trong GDP, tạo nên sự phát triển bền vững lâu dài cho Quảng Xương.
Kết cấu hạ tầng, giao thông phát triển mạnh
Cùng với sự tăng trưởng cao của kinh tế, các vấn đề xã hội và kết cấu hạ tầng của Quảng Xương ngày càng được củng cố và cải thiện. Là huyện có số dân đông nhất nhì trong tỉnh, năm 2002, toàn huyện có 110.850 lao động, thường xuyên có 9 -10% lao động thiếu việc làm. Lượng lao động dồi dào, tạo nên lợi thế về nhân lực, nhưng hiện nay vẫn chưa phù hợp với sự phát triển của kinh tế, hàng năm huyện vẫn phải tổ chức làm đầu mối để đưa dân đi phát triển kinh tế ở nhiều tỉnh. Năm 2002, bằng nhiều hình thức khác nhau như tạo việc làm tại chỗ, tham gia xuất khẩu lao động, huyện đã giải quyết việc làm cho gần 5.000 lao động, góp phần giảm số hộ đói nghèo xuống còn 16,5%.
Ðến nay, hệ thống giao thông thuỷ lợi cơ bản đã được hoàn thiện. Hiện nay, 100% số xã đã có đường ôtô đến xã, toàn huyện có 60 km đường rải nhựa, hệ thống cầu cống trên các trục đường giao thông đảm bảo thông tuyến, không những tạo nên thuận lợi cho việc đi lại, mà còn là một trong những tiền đề cơ bản để phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Ðối với hệ thống thuỷ lợi, hiện có 65% diện tích sản xuất được tưới bằng nguồn nước tự chảy (8.000 ha), 35% diện tích còn lại được tưới bằng nguồn nước tạo nguồn với hình thức chủ yếu là bơm điện và bơm dầu (4.000 ha), kênh mương tưới phần lớn đã được xây dựng và kiên cố, tạo thuận lợi lớn cho nông nghiệp phát triển. Mạng lưới điện, nước không ngừng được củng cố, đến nay, hiện có 85% số dân được dùng nước hợp vệ sinh, 99% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia.
Mạng lưới thông tin liên lạc được phát triển nhanh và từng bước được hiện đại hoá, đáp ứng đủ và kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc phục vụ cho việc trao đổi thông tin trong sản xuất cũng như nhu cầu tình cảm. Hiện nay, toàn huyện có 37 trạm bưu điện văn hoá xã.
Giáo dục và y tế là hai vấn đề luôn được quan tâm ở Quảng Xương, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc giảng dạy và học tập ngày càng được xây dựng và hoàn thiện. Hầu hết các xã đều có cơ sở khám chữa bệnh, đáp ứng được sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ của người dân. Văn hoá xã hội phát triển, an ninh chính trị ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư.
Giải pháp phát triển các ngành sản xuất chính Về nông nghiệp - ngư nghiệp:
Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, coi trọng cả ba vụ mùa trong năm, tăng nhanh diện tích cây vụ đông trên đất 2 lúa, đưa hệ số sử dụng ruộng đất lên 2,45 - 2,5 lần vào năm 2005. Ðảm bảo vững chắc về an toàn lương thực, gắn tăng năng suất cây trồng với giá trị thu nhập trên 1 đơn vị diện tích.
Mở rộng quy hoạch vùng sản xuất cây công nghiệp và cây xuất khẩu đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp (cói, đay, dâu tằm...) và sản phẩm cho xuất khẩu (tơ, tằm, lạc...).
Quy hoạch vùng nuôi trồng thuỷ sản ở phía nam, phía bắc huyện và vùng ven biển. Phấn đấu đến năm 2005 nuôi trồng được 1.500 ha tôm, cua xuất khẩu. Trước mắt bố trí nuôi tôm công nghiệp ở các xã ven biển và các xã vùng phía nam huyện trên 300 ha.
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
Tập trung phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh với tốc độ tăng GDP năm 2005 là 20%.
Quy hoạch cụm công nghiệp du lịch Tiên Trang trên 300 ha (hiện nay, Công ty SOTO đã sử dụng 40 ha, thu hút gần 1.000 lao động dệt len xuất khẩu), dành quỹ đất tạo điều kiện cho các đối tác vào sản xuất công nghiệp, du lịch sinh thái.
Phát triển các ngành dịch vụ và du lịch:
Xúc tiến triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu du lịch nam Sầm Sơn, quy hoạch 512 ha giai đoạn I: quy hoạch chi tiết 270 ha, hướng bố trí xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng sức và tắm biển, vui chơi giải trí, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Tiếp tục lập các dự án để đầu tư kết cấu hạ tầng để sớm khai thác tiềm năng vùng biển.
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư, phát triển các cơ sở dịch vụ tạo ra nhiều loại hình dịch vụ có quan hệ mật thiết với nhau trên địa bàn như: dịch vụ tư nhân, tổ hợp tác dịch vụ...
Ðể có thể đạt được mục tiêu đã đề ra đến năm 2005, thu hút được các nhà đầu tư vào các dự án nhằm phát triển kinh tế - xã hội của huyện, Quảng Xương ngoài việc thực thi tốt những chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước và tỉnh Thanh Hoá còn có những chính sách riêng của huyện như: mặt bằng sản xuất và điều kiện thuê khá thuận lợi; chuyển mục đích sử dụng đất theo đúng mức giá thấp nhất trong khung giá Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định; liên doanh cùng địa phương để tổ chức sản xuất; tạo một hành lang pháp lý bảo vệ an ninh - trật tự và môi trường trong sạch; giải quyết nhanh gọn về thủ tục thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất... Tất cả những chính sách đó đã và đang phát huy tác dụng trong những năm qua, nó được minh chứng bằng sự phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Xương, thể hiện được sự đổi mới tư duy của một huyện với truyền thống sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, giờ đây đã nhận thức được cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển.

Danh mục các dự án kêu gọi đầu tư
1) Xây dựng khu nuôi tôm công nghiệp 300 ha (ở xã Quảng Trung, Quảng Chính) và các xã vùng ven biển có khả năng nuôi trồng thuỷ, hải sản.
2. Ðầu tư vào Khu du lịch nam Sầm Sơn giai đoạn I: 270 ha. Xây dựng khu nghỉ dưỡng, khu du lịch sinh thái, khu vui chơi giải trí phục vụ cho du khách trong và ngoài nước.
3) Xây dựng cụm công nghiệp - du lịch Tiên Trang với quy mô 300 ha, tập trung vào các hạng mục: đầu tư mới các hoạt động sản xuất công nghiệp; khu du lịch tắm biển, vui chơi giải trí; xây dựng cảng cá Quảng Nham; xây dựng các cơ sở chế biến hải sản biển.
4) Thực hiện quy hoạch mở rộng thị trấn, là trung tâm của huyện lỵ. Trong đó, xây dựng khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng khu vui chơi giải trí, thể thao; xây dựng khu giới thiệu quảng bá sản phẩm trong huyện.
5) Xây dựng cơ sở chế biến súc sản, hải sản đông lạnh tại xã Quảng Lĩnh công suất 2.000 tấn/năm, vốn đầu tư 5 tỷ đồng.
6) Cần đầu tư cho các tuyến đường giao thông chính và cơ sở vật chất trường học cao đẳng.
Ðịa chỉ liên hệ:
Uỷ ban nhân dân huyện Quảng Xương
Chủ tịch: Vũ Khoa Việt
Ðiện thoại: 037. 863021 - 0913.313498


Quảng cáo