Lời kể của cựu chiến binh trung tá Lê Duy Mai ở thôn Hồng Phong, xã Hải Ninh (Tĩnh Gia - Thanh Hóa), một thợ máy trên tàu 235 sống sót trở về càng minh chứng cho lòng quả cảm, kiên trung của các thủy thủ hoạt động trên vùng biển do địch kiểm soát.
Xác định hy sinh
Nhà thơ Hồ Bá Thâm từng viết những vần thơ nổi tiếng: Trên biển không có đường mòn/Nhưng có một con đường không quên/Những con tàu không số/Những con người không tên!/Lênh đênh trên biển/Một thời chở hàng, vũ khí vào Nam/Giữa bão giông/Giữa đạn bom quân thù vây bủa. Trở về với đời thường, người không tên năm ấy giờ đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy, mái tóc đã điểm sương nhưng mỗi lần ai đó nhắc về những con tàu không số, ông Lê Duy Mai lại không kìm nén được nỗi xúc động.
Phiên hiệu 235 là tàu vận tải tốc độ cao được lắp các thiết bị hiện đại. Đặc biệt, tàu có khả năng hành trình dài ngày và chiến đấu độc lập trong mọi tình huống. Sau khi tốt nghiệp Trường trung cấp Hàng hải, tháng 2/1964, ông Mai gia nhập Quân chủng Hải quân. Mùa hè năm 1966, ông và một số đồng chí khác được điều động đi nhận 2 tàu ở Trung Quốc có phiên hiệu 235 và 246 do hai đồng chí Nguyễn Phan Vinh và Võ Hán làm thuyền trưởng. Sau một thời gian huấn luyện tại cảng Di Linh (đảo Hải Nam - Trung Quốc), mùa hè năm 1967, hai tàu nhận lệnh về nước và chở chuyến hàng đầu tiên vào Khánh Hòa.
Rời chặng dừng chân đầu tiên là sông Gianh (Quảng Bình), tàu 235 tiếp tục vận chuyển vào cảng Khánh Hòa. Đúng Tết Mậu Thân 1968, lợi dụng thời tiết xấu và hoạt động của địch trên biển giảm, ông Mai được lệnh cho 4 máy chính hoạt động hết công suất và thẳng tiến vào bờ. Khi tàu áp sát gần bờ, nhận được tin tình báo bất lợi nên tàu phải chuyển hướng quay về đảo Hải Nam nằm chờ.
Tháng 2/1968, tàu nhận lệnh khởi hành tiến vào bến Hòn Hèo (Khánh Hòa). Trong suốt hành trình ngoài hải phận quốc tế, tàu và máy bay địch bám đuổi ráo riết. Các thủy thủ trên tàu đánh lạc hướng địch bằng cách đổi hướng tiến thẳng sang nước bạn, treo cờ nước ngoài. Địch bị đánh lừa và bỏ cuộc, tàu 235 mới tiến vào mục tiêu. 0 giờ ngày 01/3/1968, tàu vào bến Hòn Hèo và phát tín hiệu liên lạc nhiều lần nhưng không có người nhận. Cuối cùng, thuyền trưởng cho tàu thả neo và thực hiện phương án thả hàng.
Vừa thả hàng xong, tàu thủy của địch ập đến. Trên bầu trời, tiếng gầm rú của máy bay địch xen lẫn tiếng gọi loa chiêu hồi. Hàng chục nòng súng và đèn cao áp chĩa thẳng vào con tàu và các thủy thủ. Xác định tàu đã bị lộ và không thể thoát khỏi vòng vây, trong giờ phút cái chết cận kề, các chiến sỹ trên tàu vẫn bình tĩnh thống nhất phương án hành động.
Thuyền trưởng Phan Vinh quyết định cho nổ súng chiến đấu với địch. Do được trang bị vũ khí hiện đại và tính chiến đấu độc lập nên một số tàu địch đã bị trúng đạn và chìm. Tàu địch bị chống trả bất ngờ nên không dám tiến thêm, tận dụng cơ hội ông Mai được giao nhiệm vụ thực hiện phương án 3.
Đánh bộc phá tại tàu
Lúc này, sự bình tĩnh và lòng kiên trung đã giúp các chiến sĩ trên tàu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Vai trò của người thợ máy Lê Duy Mai được thể hiện trong lúc phần lớn cán bộ, chiến sĩ đã bị thương nặng, tàu sắp bị địch đánh tan. “Tôi nhận lệnh mở van khí ép bơm xuồng cao su để số đồng chí bị thương nặng rời tàu vào bờ. Trên tàu chỉ còn thuyền trưởng Phan Vinh, đồng chí Hàng Hải, hai đồng chí điều khiển 2 máy bơm trước, 2 đồng chí điều khiển 2 máy bơm sau, hai đồng chí giữ pháo thủ 14,5 ly, một đồng chí sử dụng súng ĐKZ và tôi tiếp tục chiến đấu”, ông Mai bồi hồi nhớ lại.
Nếu đầu hàng hoặc bị địch đột nhập lên tàu có nghĩa là toàn bộ số hàng, vũ khí, chặng đường hành trình, tài liệu mật sẽ rơi vào tay địch. Nguy hiểm hơn là khi địch phát hiện ra tàu 235 chuyên chở vũ khí từ Bắc vào Nam theo đường biển thì từ đây chúng sẽ lần ra con đường Hồ Chí Minh trên biển, nên bằng bất cứ giá nào các chiến sĩ cũng không thể để tàu rơi vào tay địch. Vì thế, đánh bộc phá tại tàu là phương án thứ 3 mà cả đội thống nhất. Nhận xong lệnh, ông Mai tụt xuống cầu thang băng bó vết thương cho anh em và động viên từng chiến sĩ một. Lượng thuốc nổ TNT đã được tính toán và đặt ở các vị trí trọng yếu. ông Mai kể: “Đồng chí An, Thật và tôi ngồi vào vị trí, bình tĩnh sắp xếp các loại kíp nổ số 8, kíp hóa học, kíp điện dây chuyền nổ theo thứ tự, không thể nhầm lẫn. Chờ tín hiệu là điểm hỏa”.
Đánh bộc phá tại tàu có nghĩa là chấp nhận hy sinh tại tàu cùng khối lượng thuốc nổ. Đèn tín hiệu điểm hỏa vừa bật sáng, các chiến sỹ tàu 235 thực hiện tuần tự: Nối dây cháy chậm chuyền nổ vào kíp số 8, dùng kìm bóp kíp hóa học, gạt kim đồng hồ về vị trí hẹn giờ đúng với phương án.
Điểm hỏa xong, thuyền trưởng Phan Vinh hỏi ông Mai: “Chắc ăn chưa”. “Chắc”, ông Mai trả lời. Ngay tức khắc, tất cả các chiến sỹ cùng lao xuống biển để bơi vào bờ. Bơi được vài chục mét, họ bỗng nghe tiếng nổ lớn từ phía sau, ngoái đầu lại thì chỉ thấy một cột lửa bốc cao đỏ cả một vùng trời. Những chiếc phao cứu sinh bị cháy bay lướt qua đầu các chiến sỹ, còn mũi tàu thì bay tận lên chân núi thuộc xã Ninh Vân (Ninh Hòa - Khánh Hòa. Địa điểm này giờ đây trở thành nhà bia tưởng niệm 14 chiến sỹ tàu 235 đã hy sinh.
Sau khi lên bờ, các chiến sỹ chia làm 2 tốp, một tốp do thuyền trưởng Vinh chỉ huy, tốp thứ hai do anh Đoàn Văn Nhì chỉ huy. Ngay hôm sau, tốp chiến sỹ do đồng chí Phan Vinh chỉ huy bị địch phục kích, cả 7 chiến sỹ chiến đấu anh dũng và tất cả đều hy sinh. Tốp thứ hai (trong đó có ông Mai), bảy ngày ẩn nấp trong rừng rậm, giặc bao vây bốn bề. Không lương thực, không nước uống nên các anh vừa chiến đấu với địch vừa chống chọi với cơn đói khát. Hai chiến sỹ không chịu được khát nên đã lội xuống suối uống nước và không may bị địch phát hiện. Hai bên nổ súng, thủy thủ Đoàn Văn Nhì hy sinh anh dũng, anh Mai Văn Khung bị bắt, mãi tới khi miền Nam hoàn toàn giải phóng mới được tự do.
Năm chiến sỹ còn lại vẫn động viên nhau chịu đựng đói, khát để băng rừng, vượt suối. Đến ngày thứ 13, hầu hết các chiến sỹ đều trong tình trạng cận kề cái chết vì đói và khát. Sự thiếu thốn mọi thứ đã khiến chúng tôi sức cùng, lực kiệt. Trời về đêm, dưới ánh trăng mờ lấp lánh qua khe lá rừng, chúng tôi tiếp tục bò men theo bờ biển. Phát hiện có người lội bì bõm dưới nước, tôi phân công đồng chí Tuyến, Phong chọn địa điểm ẩn nấp, theo dõi và yểm trợ; còn tôi và đồng chí An bí mật tiếp cận và khống chế đối tượng. “Sau khi xét hỏi mới biết đó là một du kích địa phương đóng vai dân chài để đón chúng tôi”, ông Mai nhớ lại. Được du kích đưa vào căn cứ tập kết, đãi món cháo gà rừng và được bà con chăm sóc, điều trị tận tình nên 5 chiến sỹ đã nhanh chóng vượt qua cơn nguy kịch.
Từ cõi chết trở về, các anh lại tiếp tục đi bộ 6 tháng liên tục vượt dãy Trường Sơn và gặp lại Binh đoàn 125 - những con tàu không số để tiếp tục chiến đấu. Với niềm tin chiến thắng, lòng quả cảm, kiên trung, những thủy thủ trên tàu không số đã mở ra con đường Hồ Chí Minh trên biển và lập nên những chiến công oai hùng.
(baothanhhoa.vn)